Showing posts with label JB Nguyễn Phi Long S.J.. Show all posts
Showing posts with label JB Nguyễn Phi Long S.J.. Show all posts

Monday, January 7, 2019

Đợi Người Yêu



Đợi Người Yêu

Mùa Vọng sắp đến! Nhưng có lẽ, rồi nó cũng sẽ qua đi như biết bao Mùa Vọng khác. Vậy, nó cũng đâu khác mấy so với bốn mùa trong năm. Nó cũng như những cơn mưa bất chợt đến rồi lại đi mà chẳng để lại dấu vết gì; nếu có chỉ là một lớp ẩm ướt mỏng rồi lại nhanh chóng bay hơi lên không. Nếu được phép ví Mùa Vọng như cái gì thì tôi xin ví nó như một cuộc theo đuổi tình yêu- một câu truyện tình giữa một chàng trai và một cô gái đang tuổi xuân thì.
            Mùa Vọng là mùa của chờ mong, trông đợi người mình yêu. Khoảng thời gian ấy cho tôi cảm tưởng như đó là một cuộc chinh phục tình yêu của một chàng trai dành cho một cô gái. Cả hai đang tuổi xuân xanh với tình yêu chớm nở đầu đời. Nàng là một cô gái nhỏ nhẹ, hay thèn thùng và ít nói. Vốn dĩ tính của nàng nhẹ nhàng, thanh tao vì thế mà nàng rất thích màu Tím. Còn chàng trai là một gã đa tình và kẻ ấy chính là tôi. Chàng thích nhìn cô này, ngắm cô nọ và trò chuyện với cô kia trong khi lòng lại say đăm một bóng hình khác. Cuộc sống là một chuỗi những bất ngờ. Chàng gặp một bóng hồng trong bộ áo dài thướt tha nơi sân nhà thờ quen thuộc. Nàng có mái tóc thề bồng bềnh như một dải mây dài được ai đó treo lơ lửng trên bầu trời giữa đêm trăng tỏ.
            Tình cờ ngó qua, tình cờ gặp nhưng sao trong tâm trí chàng thấy chẳng tình cờ. Người ta bảo đó là duyên nhưng với chàng lại là nợ. Người ta hỏi lý do tại sao như vậy? Thì chàng chỉ trả lời rằng tại sao lại không! Kể từ lần đầu gặp nàng, chàng trai si tình kia không làm sao có thể thôi nghĩ về hình bóng ấy, đến nỗi tại vì tà áo tím thướt tha ấy mà tâm trí của chàng phút chốc tan đi những bóng hình kiều diễm khác.
Nàng học ở Sài Gòn, còn chàng là dân thôn quê. Nàng biết nhiều điều thú vị của chốn thị thành, còn chàng chỉ biết đến con trâu, cái cày, cái cuốc. Nhưng có điều chàng biết chắc chắn rằng cơ hội dành cho mình chỉ có vỏn vẹn 4 tuần để tỏ lộ tình cảm cùng nàng.
            Biết phải làm sao đây khi ông trời cho chàng một thân xác giới hạn nhưng con tim lại quá nhiều cảm xúc, để rồi khi gặp phải bóng hình ai kia lại khiến lòng chàng rối bời. Chàng làm mọi cách để có cơ hội gặp lại cô gái bên tà áo tím mộng mơ. Chàng “canh me” trước cửa giáo đường. Chàng trồng “cây si” bên hàng dậu nhà nàng. Chàng cũng quên bẵng đi đám bạn thường rủ đi trêu ghẹo những cô nàng hàng xóm. Chàng cũng bỗng quên đi rằng mình thích hút thuốc, uống rượu vơ đấy. Lý do là vì có lần chàng vô tình nghe được cô gái ấy nói chuyện với bạn của nàng rằng cô là chúa ghét kẻ rượu chè, thuốc lá. Thế là chàng bỏ! Bỏ hết! Bỏ luôn lối sống mà chàng đã từng sống vì chàng đang mong ngóng nàng. Chàng bỗng trở nên ngoan đạo hẳn khi cứ sáng sáng lại đi dự lễ chỉ để được nhìn mái tóc đen huyền hoặc của nàng từ phía sau.
            Đâu mất rồi chàng trai thuở nào với biết bao đam mê vụn vặt. Thay vào đó là si tình một hình bóng hình xa xăm. Chàng nhủ thầm: “thôi! ráng vậy vì dù gì cũng có mấy ngày nàng ở quê đâu. Phải cố gắng hết sức biết đâu thần tình yêu đoái nhìn. Nàng đi rồi lại trở về đó mà!”. Và rồi vào một ngày trung tuần tháng 12, nàng tiên áo tím lại diện trên mình bộ áo hồng cánh sen đẹp mê hồn. Nàng đến nói khẽ với chàng rằng: “Anh! Đi ăn chè không?”. Tim chàng như nhảy lên sung sướng bởi trong hàng ngàn lần đi ăn chè của mình thì đây là lần đầu tiên chàng nhận được lời mời của một cô gái. Chàng thấy mình bỗng trở nên có giá trước mặt nàng.
            Chàng biết rằng mình đã được nàng để ý. Chắc rằng khi nàng mời mình gặp mặt thế này thì hẳn là cô ấy không nghĩ mình tệ hại. Lần gặp gỡ đầu tiên ấy khiến chàng mạnh mẽ hơn vì những nỗ lực đã có câu trả lời. Chàng hiểu được rằng một tình yêu thực sự không phải là thứ tình yêu có được nhờ những kỹ thuật hay những lời nói gió bay nhưng phải từ chính tình yêu chân thành mà chàng gởi vào từng điều nho nhỏ. Chàng chờ! Chàng đợi như thể việc làm duy nhất của chàng trên cuộc đời này là chờ đón lấy tình yêu của nàng mà thôi.
            Hạn một tháng cũng trôi qua, nàng lại tiếp tục lên thành phố học để lại nơi chàng một mối tình sâu đậm. Mối tình ấy sâu đến mức khiến chàng không thể ngoi lên để hít lại những gì xấu xa trước kia mà chàng đã rũ bỏ dưới làn nước trong xanh của mối tình đầu trong sáng. Tình yêu ấy đậm đến mức khiến con tim của chàng chỉ trần ngập tình yêu. Nó đậm đến mức người xung quanh chàng đều biết gã này đang yêu và những cô gái khác cũng thừa biết rằng thái độ của chàng lúc này chỉ là của kẻ si tình. Dù có nàng ở bên cạnh hay không, chàng vẫn sống như đang chung chia với nàng một nhịp đập của trái tim yêu đương. Tình yêu làm chàng thành con người mới! Nàng làm trái tim của chàng mới toanh đến nỗi chính chủ nhân của nó cũng không nhận ra được trái tim đó có phải của mình hay không.
            Chuyện tình yêu đẹp lắm và tôi cũng ao ước rằng mình cảm nhận được tình yêu qua Mùa Vọng này. Trong chữ Nôm, Vọng (望) được cấu tạo từ 3 chữ khác: Vong (亡) là mất đi; Nguyệt (月) mang nghĩa là trăng và Nhâm (壬) có nghĩa là vùng rộng lớn. Chúng ta có thể hiểu đơn giản là ánh trăng bị mất đi giữa một vùng rộng lớn. Mất trăng khiến người ta phải tìm, phải chờ đợi trong nỗi niềm hy vọng vào sự xuất hiện trở lại của ánh trăng trong sáng và huyền hoặc. Mùa vọng cũng là khoảng thời gian để tôi trong ngóng, chờ đợi trong niềm hy vọng chắc chắn và hân hoan sự xuất hiện của một biến cố lịch sử- biến cố con Thiên Chúa xuống thế làm người.
            Vâng, Mùa Vọng sẽ đến rồi cũng sẽ qua để nhường chỗ cho Mùa Giáng Sinh. Như ý nghĩa bình thường của Mùa Vọng là khoảng thời gian chuẩn bị tâm hồn và mong chờ Chúa đến. Những ngày này đã là những ngày cuối cùng của năm Phụng Vụ và Mùa Vọng sắp bắt đầu. Tôi đã thấy loáng thoáng đâu đó những bóng đèn trang trí nhấp nháy đủ màu, những cây thông đủ loại, những cuộc tập văn nghệ chuẩn bị cho lễ Giáng Sinh. Tôi cũng mong ước rằng Mùa Vọng trở thành một cuộc chinh phục tình yêu cho mỗi người. Mùa Vọng tiếp tục trở thành tình yêu cá vị của mỗi người với Chúa Giê-su. Từng người chinh phục tình yêu của Thiên Chúa bằng những nỗ lực của bản thân để sửa mình, dọn dẹp căn nhà tâm hồn mình để xứng đáng tiếp rước Chúa. Rồi sẽ đến một lúc nào đó, dù tôi có đi qua những hạnh phúc tuyệt nhất trần đời hay phải chìm sâu trong vũng sâu tăm tối của đau khổ thì tình yêu tôi dành cho Chúa và tình yêu Chúa dành cho tôi vẫn vẹn nghĩa trọn tình dù trước đó tôi đã vô tình chạy theo nhiều thú vui của đời.

JB Nguyễn Phi Long, S.J.  

Facebook- Làm theo Đức Tin mách bảo





Trên Internet những ngày vừa qua, một cơn bão mạng đã xảy ra với sức lan rộng vô cùng nhanh của các cư dân thời @. Cơn bão chính thức được hình thành và phát triển vào ngày 11/10/2018 từ một phát ngôn trên trang cá nhân Facebook của một ca sĩ nổi tiếng.[1] Bên cạnh đó, một cơn bão khác với những cơn cuồng nộ và giận dữ đổ dồn về phía một nữ sinh năm 4 đã vứt bỏ con mình sau khi vượt cạn vào ngày 18/10/2018 lại làm cho mạng xã hội xôn xao.[2]
Điều gì đã xảy ra sau phát ngôn của Mỹ Linh và sự kiện cô nữ sinh năm 4 ném con
            Không cần phải mất nhiều thời gian để tìm hiểu, sự việc được bắt đầu từ một chia sẻ ý kiến cá nhân về nhà hát 1.500 tỷ trên trang mạng Facebook, ca sĩ Mỹ Linh đã bị cộng đồng mạng chỉ trích “ném đá” một cách sôi nổi. Với bài đăng có hình ảnh gốc nguyên văn chia sẻ của cô ca sỹ đã có tới 10.896 lượt chia sẻ chỉ trong 2 ngày. Những cụm từ “bà này”, “cái thứ này…thứ nọ…” xuất hiện trong từng bình luận mà dân mạng không tiếc dùng để chỉ cô ca sỹ. Chưa dừng lại ở đó, cư dân mạng kêu gọi nhau tẩy chay tất cả những sản phẩm có hình ảnh và có sự tham gia của ca sỹ Mỹ Linh. Con số chia sẻ, bình luận trên những cuộc kêu gọi này tính lên số hàng ngàn lượt. Kết quả là hãng gốm sứ Minh Long gỡ hình đại diện của cô ca sỹ ra khỏi sản phẩm[3], đời tư của cô bị đem ra bàn tán sôi nổi hơn bao giờ hết.
            Cô nữ sinh năm 4 của một trường đại học ở Hà Nội đã ném đứa con vừa được sinh ra xuống đất từ tầng 31. Ngày 18/10 là ngày xảy ra sự kiện, cô nữ sinh ấy cũng đã bị cộng đồng mạng tìm tới tận địa chỉ riêng, lục lọi cả đến trang cá nhân và đời tư bị bới lên một cách không thương tiếc. Cô mặc nhiên bị xem là kẻ sát nhân, không có nhân tính và nhiều biệt danh khác mà người ta đặt cho cô.
            Chúng ta có thể thấy rằng 2 nhân vật trên đã trở thành nạn nhân của sự chỉ trích, ném đá trên không gian mạng. Không chỉ dừng lại ở thế giới ảo mà những hệ quả nó gây ra đã tác động sâu sắc đến đời sống thực của người đó.  
Thấy gì qua tâm lý của đám đông
            Dường như trong 2 “cuộc bão mạng” này đều có một điểm chung của một đám đông giận dữ. Qua đó, tôi nhớ lại bảy bước căm ghét nơi đám đông của John R.Schafer và Joe Navarro.[4]
Bước 1: Những người căm ghét hay phẫn nộ tụ tập lại với nhau.
Bước 2: Họ tạo lập một bản sắc riêng. Người ta cùng nhau kêu gọi tẩy chay các sản phẩm và các chương trình dính líu đến đối tượng.
Bước 3: Họ giễu cợt, phỉ báng đối tượng và củng cố hình ảnh bản thân. Thường dùng lời lẻ và những hình ảnh để lấy đối tượng làm trò cười.
Bước 4: Sự lăng nhục và thóa mạ đối tượng được nâng lên một bậc.
Bước 5: Họ tấn không nhưng không dùng vũ khí. Có thể bằng cách khủng bố tinh thần, đe dọa…
Bước 6: Tấn công bằng vũ khí. Không ít trường hợp tìm đến nhà để đánh và khủng bố đối tượng bằng việc hành hung.
Bước 7: Đối tượng căm ghét bị phá hủy.
            Một điều mà chúng ta dễ dàng nhận ra trong các phản ứng của đám đông đó chính là sự thái quá và thiếu đi tính lập luận. Tính thái quá của đám đống có thể ở cực yêu mến hết tình, ủng hộ hết mức rồi lại đột ngột chuyển nhanh đến ghét cay ghét đắng, đay nghiến cực độ. Và vì mọi người trong đám đông, ẩn danh và càng đông càng an toàn. Chính vì thế mà thái độ trách nhiệm và tư duy cá nhân của một người trong đám đông lại trở nên tê liệt.[5]
Không những thế, cách lập luận của đám đông thường là cách lập luận khái quát hóa hời hợt, nhanh chóng dựa vào các đối tượng và sự kiện bên ngoài có vẻ giống nhau.[6] Chúng ta có thể cho rằng cô sinh viên năm 4 là kẻ sát nhân, mất nhân tính vì có những sự kiện như giết người, mẹ đi giết con, ném con ra cửa, áo dính máu…dường như có nhiều tình tiết như các vụ giết người khác.
Trí tưởng tượng của đám đông cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Vì trong hoàn cảnh cụ thể và đang chịu sự kích thích của đám đông thì việc tư duy lô-gích của từng cá nhân hoạt động kém hiệu quả.[7] Đơn cử như trong trường hợp cô nữ sinh năm 4 ném con mình qua cửa sổ, người ta chẳng cần biết trước đó hoàn cảnh của cô như thế nào, trong lúc mang thai ra sao và hoàn cảnh của cô lúc sinh xảy ra thế nào. Chính lúc đó, trí tưởng tượng của cá nhân trong đám đông được kích hoạt bằng việc xâu chuỗi các sự kiện; cô nữ sinh năm 4 mới có 21 tuổi, cô vẫn sinh hoạt với 2 bạn trai trong lúc mang thai, cô sinh con xong rồi ném đi, áo còn dính máu khi bị bắt… và kết luận rằng cô không còn là “người phàm”
Bác ái Ki-tô giáo qua từng con chữ trên không gian mạng
             “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm.” (Lc 23: 34).
            Mạnh Tử đã nhìn thấy trong tận thâm tâm con người luôn có một cái tâm hướng thiện và nó được nuôi dưỡng để trở nên hoàn hảo hơn[1]. Còn theo Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XVI đã nói trong bài huấn dụ các thành viên hiệp hội Caritas năm 2011 rằng: “Các Kitô Hữu, chính Thiên Chúa là nguồn gốc tình bác ái, và bác ái được hiểu không chỉ đơn thuần là lòng tốt theo nghĩa chung chung, nhưng là sự trao ban chính mình, cả tới mức độ hy sinh mạng sống mình vì người khác, theo gương của Chúa Giêsu Kitô.”
            Tôi cũng như bạn đều có quyền chia sẻ những cảm xúc và có quyền tỏ thái độ của mình trước những bất công, những tội ác trong xã hội. Điều quan trọng là chúng ta thực hiện nó như thế nào vì ngoài là một cá nhân trong xã hội, tôi và bạn còn có trong mình thân phận là con Thiên Chúa. Những lời bình luận thiếu thẩm mỹ hay những ngôn từ sặc mùi gây chiến có lẽ cần được suy xét thật kỹ trước khi nó được dùng. Nói đến đây quả thật rất khó để nói được như trong Kinh Thánh: “Điều răn đứng đầu là, Nghe đây: hỡi Israel, Đức Chúa Thiên Chúa của chúng ta, là Thiên Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mên Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào trọng hơn các điều răn đó.” (Mc 12: 29-31; Mt 22: 34-40)
            Dẫu biết rằng không gian mạng là một thế giới ảo nhưng nó cũng mang đến biết bao hậu quả thật cho những đối tượng bị gièm pha và công kích trên đó. Chúng ta có thể bình luận một cách thoải mái mà thiếu đi sự suy xét hậu quả để lại cho đối tượng hứng chịu sự sỉ nhục của chúng ta sẽ khiến cho chúng ta trở nên những Ki-tô hữu giả hình và để Chúa lại nhà thờ như Đức Phanxicô đã nhắc đến trong bài giảng người ngài.[2]
Thường người ta sẽ bước đi vững hơn sau khi đã đặt một chân thật chắc. Chúa trao ban cho chúng ta một trái tim biết yêu thương và chúng ta có trách nhiệm nuôi dưỡng tình yêu thương đó được lớn lên dù trong bất kì hoàn cảnh nào. Thánh Phanxicô Assisi cũng đã cầu nguyện trong lời Kinh Hòa Bình là được “Đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an bình vào nơi tranh chấp…”
            Tôi thiết nghĩ rằng điều chúng ta cần lúc này là nuôi dưỡng trong tâm hồn mình một tình bác ái Ki-tô giáo đích thực. Một tình bác ái mang tính đại đồng, quảng đại và vị tha. Chúng ta luôn bày tỏ lòng mưu cầu hạnh phúc cho người khác và đồng thời trở nên một tiếng nói chống lại bất công, tội ác. Tuy nhiên, chúng ta không thể làm xã hội và đời sống của chúng ta tốt đẹp hơn bằng những cơn giận dữ và nguồn cảm xúc đến từ đám đông được. Chúng ta không thể mang người khác đến được với Chúa nếu lòng căm phẫn của chúng ta khao khát loại trừ. Vâng, mang Chúa vào trong từng câu chữ thật khó! Nó khó vì tỏ bày lòng tha thứ, yêu thương khi đứng trước bất công, đau khổ trong thân phận yếu đuối của chúng ta. Hiếm ai có thể thản nhiên nói rằng đau khổ là “bình thường”. Tuy vậy, cách thức mà chúng ta đối diện với bất công, cách chúng ta giải quyết những điều xem chừng ra xấu xa ấy mà chúng ta phải gặp hằng ngày sẽ cho chúng ta biết “Tôi gần Chúa đến mức nào?”

JB. Nguyễn Phi Long, S.J.




[1] Arrington, Robert L. "The World's Great Philosophers" Mencius (Blackwell), 2003: 211-216.















Bibliography
Arrington, Robert L. "The World's Great Philosophers." Mencius (Blackwell), 2003: 211-216.
John R.Schafer; Joe Navarro, “Senven-stage hate model”, FBI Law Enforcement Bulletin, Volume:72, Issue: 3. 3/2003.
https://vietnammoi.vn/phat-ngon-ung-ho-viec-xay-nha-hat-nghin-ti-o-tp-hcm-ca-si-my-linh-bi-cong-dong-mang-nem-da-gay-gat-150543.html
https://news.zing.vn/phat-hien-thi-the-tre-so-sinh-giua-san-chung-cu-o-ha-noi-post885558.html
https://baomoi.com/gom-su-minh-long-da-go-hinh-anh-diva-my-linh-lam-dai-dien-thuong-hieu/c/28187464.epi
https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2018-10/santamarta-051018-khoncho-cackitohuu-giahinh-ho-de-chua-o-lai.html




CHÚA CHẾT RỒI


CHÚA CHẾT RỒI


            Tôi đã kết hôn được 4 năm và vợ tôi cũng thuộc vào nhóm sắc nước hương trời vào thời điểm mới gặp nhau. Nếu cuộc sống là một cỗ máy thời gian thì có lẽ tôi chẳng có nhiều thời giờ để ngồi mà viết ra những dòng tâm sự này. Còn nếu như cuộc sống là một cuốn tiểu thuyết thì chuyện gia đình tôi quả là một trích đoạn bi kịch trong một chuỗi bi thương từ lời mở đầu cho đến dấu chấm cuối cùng của phần mục lục. Với tôi lúc này thì Chúa đã chết mất rồi.
            Vợ tôi năm nay được 25 tuổi và kém tôi 1 tuổi. Ông bà bảo là “gái hơn 2, trai hơn 1” lấy nhau về gia đình sẽ êm ấm. Trường hợp của tôi dường như đi ra ngoài cái quy luật của ông bà khuyên. Chúng tôi tình cờ gặp nhau tại một quán ăn vặt trên đường Lê Văn Sỹ chốn phồn hoa Sài Thành. Vì tranh nhau ai sẽ dùng chai tương ớt trước mà chúng tôi trúng mũi tên tình yêu của vị thần tình ái. Quen nhau được 2 năm, chúng tôi quyết định tiến tới hôn nhân khi cả hai đều có công ăn việc làm ổn định.
            Nào có ai được sở hữu một cuộc sống chỉ toàn màu hồng đâu! Năm đầu tiên của chúng tôi rất hạnh phúc. Như bao cặp đôi khác, chúng tôi dành cho nhau những tình cảm nồng ấm nhất, tốt đẹp nhất như thời còn yêu nhau. Thế rồi sóng gió bắt đầu nổi lên như một cơn ác mộng. Tôi làm nghề điện lạnh cho một công ty tư nhân ở Sài Gòn, còn vợ tôi làm giáo viên của một trường tiểu học. Giữa một nơi đất chật người đông và với khoản lương ba cọc ba đồng như vợ chồng tôi thì phải tằn tiện lắm mới có thể trang trải đủ cho các khoản trong một tháng. Bắt đầu cơm, áo, gạo, tiền xen giữa trái tim của chúng tôi như một lực cản vô hình làm cho những cuộc trò chuyện của hai vợ chồng bắt đầu xoay quanh chủ đề tiền nong. Có khi vợ chồng chúng tôi đùn đẩy trách nhiệm gia đình cho nhau và cho rằng chính mình là người đang phải vác thập giá của người kia trao. Có khi 2 vợ chồng cãi nhau chỉ vì những chuyện vụn vặt. Không phải chúng tôi hết yêu nhau, nhưng vì trái tim chúng tôi dường như bị nhưng cơn sóng cuộc đời xô đẩy khiến cho nhịp tim của 2 đứa có khi lệch nhịp.
            2 năm sau ngày cưới, bình yên cũng trở lại với việc vợ tôi sinh em bé. Tôi được lên chức bố và tôi đặt tên cho đứa con đầu lòng của mình là Nguyễn Bình An. Tôi ước mong cuộc sống của gia đình mình khi có con sẽ êm ấm và bình an hơn. Nào ngờ, khi con tôi được 1 tháng 3 tuần tuổi, bác sĩ kết luận rằng con tôi bị suy hô hấp và tiểu đường sơ sinh. Tôi tự hỏi chuyện gì đang xảy ra cho cuộc đời của mình vậy. Tôi mới cưới vợ và mới được làm cha mà? Tại sao Chúa lại để cho những điều tồi tệ như vậy xảy ra cho tôi? Vợ chồng tôi chịu cực trong cuộc mưu sinh chưa đủ hay sao mà nay lại bắt chúng tôi hứng chịu thêm cảnh ly tán này nữa? Rồi tôi bắt đầu tập hút thuốc lá. Tôi thường lén vợ lên sân thường ngồi hút thuốc một mình. Bật lửa! kéo một hơi rồi thả làn khói trắng lên không trung khiến lòng tôi những tưởng rằng mọi khổ đau của mình đang tan dần vào mây khói. Tâm trạng tôi những lúc ấy dường như đang rơi vào bế tắc. Khói thuốc lá cứ từng đợt tỏa lên không như lòng thôi muốn trút đi nỗi khổ tâm. Tôi hiểu rằng chữ khổ luôn luôn có dấu hỏi trong đó. Tôi thấy đời bất công vì tôi khổ không biết lý do vì sao.
            Tiếng la thất thanh của vợ tôi vào giữa đêm khiến tôi choàng tỉnh giấc. Tôi lồm cồm dậy mở điện thoại xem thì mới có 3 giờ sáng. Quay sang vợ, tôi thấy mắt cô ấy đã ướt nhòe. Dường như hiểu chuyện, tôi nhìn xuống đứa con bé bỏng của mình đang thoi thóp từng nhịp yếu ớt. Ngay lập tức, tôi đưa Bình An của mình vào bệnh viện. Sau 3 tiếng cấp cứu, bác sĩ đã báo cho tôi rằng “anh vào ở với cháu nó nhé! Tôi e rằng cháu khó qua khỏi”. Chẳng cần nghe thêm gì nữa, tôi chạy thẳng vào giường của con để nhìn con tôi đang lịm dần trong từng hơi thở. Bao quanh con tôi là hàng tá dây, ống các loại, chằng chịt và lạnh toát. Quang cảnh đó đóng băng tâm hồn tôi.
            Tôi và vợ ngắm nhìn Bình An như con chỉ đang ngủ mà thôi, tôi áp tai mình vào ngực của con. Trái tim bé bỏng ấy đang đập từng nhịp một cách yếu ớt. Từng tiếng một, nhẹ nhàng thôi nhưng sao hồn tôi vỡ vụn từng mảnh một. Và trên màn hình hiển thị nhịp tim của Bình An dần dần trả về số 0. Tôi hét tên con tôi, tôi kêu gào như kẻ điên trong phòng cấp cứu. Tôi như thể một đứa bé đã làm vuột mất cánh diều ước mơ của mình mà giờ chỉ còn một điều phải làm là nhìn cánh diều ấy bay đi trong sự bất lực của bản thân. Chúa ở đâu rồi? Tại sao đến tận cùng đau khổ này rồi mà Ngài vẫn nín lặng vậy? Tôi oán trách Chúa? Tôi căm hận một Thiên Chúa lặng thinh trước đau khổ của mình? Và tôi chắc chắn với lòng mình rằng Chúa đã chết thật rồi.
            Sau khi con tôi rời khỏi vòng tay của vợ chồng tôi, mái ấm ngày nào giờ trở nên lạnh lẽo và cô quạnh biết chừng nào. Cả tôi và vợ cũng ít nói chuyện với nhau. Chỉ gặp nhau vào mỗi bữa cơm tối khi cả hai đi làm về mà sự kiện duy nhất trong ngày này chỉ diễn ra trong tẻ nhạt và im lặng.
            Cuộc sống vẫn tiếp diễn như điều vốn dĩ của nó phải làm. Nỗi đau của vợ chồng tôi được chữa lành nhưng riêng nỗi oán hận một Thiên Chúa lặng thinh, vô cảm thì không bao giờ phai. Tôi để lòng mình chìm trong cơn căm tức ấy một thời gian dài.
            Một lần kia tôi và vợ có dịp đi thăm mộ con trai mình. Tôi đi đằng trước rồi vợ tôi đi phía sau. Đứng trước mộ của con, tôi đã thấy những mảng cỏ xanh bao quanh những khối bê tông lạnh tanh và trên đó, tôi đã thấy dòng chữ “Con mãi trong lòng Cha”. Sau khi đi thăm mộ, tôi vào nhà nhờ cùng vợ như mọi khi vẫn làm. Ngồi trước Chúa mà dường như lòng tôi thấy chai cứng. Làm gì có một Thiên Chúa nào lắng nghe lời cầu nguyện của tôi đâu! Ngồi đây chỉ phí thời gian. Vì vợ tôi đang cầu nguyện nên tôi cũng ngồi theo chứ còn tâm trí đâu mà nguyện với cầu. Trong không gian yên tĩnh nơi giáo đường, tôi nhìn ngắm một vòng và bị thu hút bởi một bức tranh vẽ Đức Maria đang ôm Chúa Giê-su khi vừa mới hạ xác Ngài xuống khỏi Thập Giá. Vậy, Đức Mẹ có đau lòng như tôi khi mất con không? Đức Mẹ có oán hận Thiên Chúa mà Mẹ tin giống tôi lúc này không? Lúc đó, trong lòng tôi lại vang vọng lên câu “con mãi trong lòng Cha” đã được khác trên mộ con mình để hiểu ra rằng Chúa đã có mặt lúc con tôi lịm đi. Bất giác tôi hiểu một điều rằng Chúa chưa chết. Quả thực, Chúa chưa chết trong cuộc đời tôi. Điều này gợi nhớ cho tôi tất cả những gì xảy đến trong hành trình hôn nhân của mình và trong từng biến cố nhỏ, lớn đều có bóng dáng của một Giê-su với những dấu đinh.
            Chúa không chết, Chúa vẫn lắng nghe từng nỗi khổ đau của vợ chồng tôi một cách chăm chú. Thiên Chúa không hề vắng bóng trong những lúc tôi gần như rơi vào trong tuyệt vọng. Thiên Chúa vẫn không hề nín lặng trong những cuộc cự cãi nảy lửa giữa tôi và vợ. Ngài vẫn hằng ở bên tôi với đôi bàn tay và chân thủng lỗ vì đinh thâu. Tôi ngộ ra được điều vắng bóng trong cuộc sống của vợ chồng tôi là lòng vị tha và nghĩ đến người khác chứ không phải Chúa. Tôi không thể nghe được lời an ủi êm dịu của Chúa vì lòng tôi đã tràn ngập âm thanh kêu trách và cái tôi chỉ nghĩ cho mình. Điều đã chết trong những khoảnh khác đau thương ấy là chính tôi chứ không phải là Chúa vô cảm. Có lẽ, tôi chỉ nghĩ cho mình và đã quá chú tâm đến nỗi đau của chính tôi hơn mọi thứ khác để rồi quên rằng có một Đấng đang lắng nghe tôi và đã chết cho chính tôi.
            Ngồi trong nhà thờ, tôi bỗng thấy lòng mình nhẹ nhõm khi nhìn lên Thánh Giá Chúa với những dấu đinh và cạnh sườn bị đâm thâu qua của Ngài. Gia đình của vợ chồng chúng tôi có lẽ gặp nhiều khó khăn và đau thương nhưng không vì thế mà chúng tôi có thể oán trách Chúa vì Ngài đã yêu chúng tôi trước và đã chết trên Thánh Giá vì chúng tôi nữa cơ mà.
Tôi chợt nhìn lên cung thánh với lòng thanh thản chưa từng nhận được ở đâu trước đó để rồi đưa mắt nhìn về biểu tưởng có một cánh tay với dấu đinh đang nâng đỡ 2 con người vươn lên Thánh Giá nằm giữa trái tim để cảm nhận rõ hơn tình yêu Chúa dành cho tôi và vợ mình thông qua Giáo Hội vẫn luôn đồng hành với những gia đình trẻ đang gặp khó khăn trong năm 2019 này. Bước ra khỏi nhà thờ, tôi cố tình chờ vợ tôi đi lên để nắm tay cô ấy như xưa và đoạn đường từ nhà thờ về mái ấm gia đình trở nên gần gũi biết bao. Đôi bàn tay của chúng tôi ấm lại sau gần 1 năm vắng lạnh vì đôi bàn tay ấy lạc mất nhau trong những sóng gió của cuộc đời. Tạ ơn Chúa vì luôn đồng hành trên từng quảng đường đời tôi đi.

JB Nguyễn Phi Long, S.J.

Cái mác tu sĩ


Cái mác tu sĩ


Tôi và anh hẹn gặp nhau tại một quán cà phê nhỏ ven đường giữa một buổi trưa Sài Thành đầy nắng và gió. Hai anh em chúng tôi đã lớn lên cùng nhau nơi mang vị của biển và hôm nay, chúng tôi có dịp gặp lại nhau sau một khoảng thời gian dài xa vắng. Gặp anh, trò chuyện cùng anh đã gợi nơi tôi có nhiều cảm xúc buồn vui lẫn lộn. Những cảm xúc không chỉ dừng lại là cảm xúc thông thường mà giữa những người bạn hay dành cho nhau nhưng còn là nỗi niềm về một phận người, một hướng đi mà anh đã gói gọn nó trong cụm từ “cái mác của tu sĩ”
Sau khi tôi tốt nghiệp cấp III, chúng tôi ao ước dâng hiến đời mình trong ơn gọi tu trì. Tôi tham gia tìm hiểu Dòng Tên, còn anh chọn theo linh đạo Phan Sinh. Sau đó, vì một lý do nào đó khiến anh chuyển hướng. Rồi anh tiếp tục dấn thân ơn gọi đời mình trong ơn gọi Dòng Tên và thế là tôi lại được sống chung một nền linh đạo với anh. Đến năm 2016, tôi tạm rời xa mọi người và cả anh- người bạn thân chí cốt- để bước vào Nhà Tập. Sau 2 năm, tôi tuyên Khấn Lần Đầu. Khi nói chuyện với mọi người và không quên hỏi thăm thông tin của anh, tôi biết rằng anh cũng đã chuyển hướng để chọn một cuộc sống mới. Vâng, đường ơn gọi của anh khá lận đận và gập ghềnh vì cuộc sống vốn dĩ chẳng có một mẫu số chung nào cho tất cả mọi người cả.
Hôm nay gặp lại anh, tôi nhận ra trên nét mặt của anh đã dần phai đi sự vô tư, ngây thơ thuở nào mà dần thay vào đó là sự dạn dày của sương gió và cả nỗi lo cho cơm, áo, gạo, tiền. Sau khi anh chọn đời sống mới, anh đã phải vất vả nhiều để mưu sinh. Chúng tôi kể cho nhau nghe đủ mọi chuyện đã xảy ra. Anh kể cho tôi nghe về đời sống “độc thân vui tính” và cuộc sống ở khu trọ của anh. Tôi lại kể cho anh nghe về đời sống học tập và những niềm vui nho nhỏ trong đời sống cộng đoàn hiện tại. Chúng tôi cũng ôn lại những kỷ niệm đẹp thời còn ở xứ quê.
Anh thở dài rồi nói một câu vô cùng chân tình khiến tôi chợt bừng tỉnh như người đang giữa cơn mê rằng “Tao nghĩ là làm gì thì làm, cái mác tu sĩ đôi khi cũng là một điều tốt” rồi anh đưa mắt nhìn xuống ly cà phê đen vẫn còn đọng nguyên lớp đường trắng dưới đáy. Chắc hẳn với anh lúc này thì vị đắng của cà phê cũng cùng vị với cuộc đời anh vậy.
Cơn gió thu bất chợt ghé ngang qua chỗ chúng tôi ngồi và nó dường như cũng mang đến nhiều nỗi niềm ưu tư khiến anh trầm ngâm, tư lự. Anh chia sẻ với tôi về đời sống trong những ngày đầu khi anh quyết định không theo đuổi đời sống tu trì nữa. Sự thất vọng, chán nản bao chùm lấy tâm hồn vốn nghệ sĩ, bay bổng của anh và dường như mọi thứ xung quanh đang nhất nhất quay lưng lại. Với anh, thật khó mà vượt qua cảm giác bơ vơ, lạc lõng giữa dòng đời đang trôi đi như vô tình trong khi những điều mà tưởng chừng như mình đã nắm trong tay thì nay theo con gió đầu mùa bay xa nơi tít tắp cách đột ngột. Lúc còn tìm hiểu, còn “đi tu” thì ai cũng muốn giúp, cũng muốn săn đón nhưng nay lại “xa rồi diễm ơi”
Tôi thắc mắc lắm chứ và muốn hỏi lý do tại sao anh lại nói như thế mà sao cố họng cứ nghèn nghèn không dám hỏi. Và rồi anh cũng giải thích thêm để tôi bớt ngộp thở. Số là từ khi anh thông báo rằng mình không đi tu nữa, anh đã mất đi không ít những mối tương quan mà vốn dĩ trước đây anh coi đó là chỗ thân thiết. Những người xưa kia đon đả đón tiếp anh như “thượng khách” thì nay lại trở nên những gương mặt “xã giao” làm anh ngán đến tận cổ.
Đó là không chỉ là câu nói từ chính những cảm nghiệm thực mà anh đã và đang phải trải qua khi chuyển từ cái người ta gọi là “thầy” sang một cuộc sống mới hơn. Từ câu nói của anh cũng khiến tôi ngẫm nghĩ nhiều về cuộc sống hiện tại của mình.
Điều mà anh bạn của tôi chia sẻ cũng đáng cho tôi suy nghĩ lắm chứ! Tôi cứ suy nghĩ mãi về “Cái mác tu sĩ” và cố tìm hiểu xem nó là gì? Với tôi, thì cụm từ ấy thường chỉ đến những con người dấn thân trong đời sống ơn gọi và dưới danh xưng là “Thầy”, là “Sơ” như một chức danh.
Quả thật, từ khi tôi thấy lòng mình khao khát dâng đời mình cho Chúa, dường như tôi chưa mảy may nghĩ rằng mình sẽ làm gì vĩ đại sau này và tôi cũng chẳng ước mong người khác phải chào mình là “Thầy”. Tôi chỉ ước mong rằng mình được sống cho Chúa trong từng việc nhỏ nhặt của cuộc sống giản đơn, tôi được sống với Chúa trong cầu nguyện và tình huynh đệ, tôi cũng được dấn thân cho Chúa qua những người nghèo và các công việc của Dòng trao phó. Thế nhưng, như anh bạn tôi nói, đôi khi “cái mác tu sĩ” vẫn lờ mờ đâu đó trong đời sống thường nhật của mình.
Có lẽ rằng nếu người ta biết tôi là tu sĩ thì tôi sẽ dễ nhận được những ưu đãi hơn người khác. Ngay chính kinh nghiệm của mình khi ngồi đợi trong một tiệm sửa xe máy. Ban đầu, tôi mang xe máy đến cho anh thợ sửa giúp vì máy cứ bị tắt hoài. Vì nghĩ rằng tôi không vội nên anh thợ cứ làm cho người khác, còn tôi mãi ngồi đọc cho xong cuốn sách mà quên để ý xe mình đã được sửa chưa. Hơn mười lăm phút sau, tôi thình lình nghe tiếng gọi tên mình từ trong nhà vọng ra, nhìn lên thì tôi thấy anh chủ đã đứng ngay trước mặt. Nói chuyện, chào hỏi một lát thì anh biết tôi đi sửa xe mà đợi nãy giờ chưa xong. Dĩ nhiên, sau cuộc trao đổi ngắn đó, tôi thấy anh chủ tiệm nói nhỏ với cậu thợ gì đó rồi vào nhà. Mười phút sau, xe tôi được sửa xong với hóa đơn tính tiền là 0 đồng.
Nhưng đâu phải đi tu là tìm những ưu đãi như thế. Nếu tu sĩ luôn tìm kiếm cơ hội để được ưu đãi, để bản thân mình luôn được tiếp đón cách trịnh trọng thì có lẽ đã đi ngược lại với đoan nguyện của một tu sĩ mất rồi. Điều anh bạn của tôi nói quả thật rất khó có thể nói hết thành lời. Bởi lẽ, không ít người nghĩ rằng tu sĩ như những vị “thánh sống”, đức độ và tri thức vì sống gần Chúa, luôn có tương quan mật thiết với Chúa hơn họ là những người sống ở đời nên có sự tiếp đãi khác với người khác. Khi còn ở Nhà Tập, tôi được dạy rằng người giáo dân chào tôi là “Thầy” không phải vì tôi mà là vì họ nhận ra được hình ảnh và bàn tay của Chúa đã và đang mời gọi tôi đi cùng con đường để làm thế giới tốt đẹp hơn nên họ mới chào “Thầy”. Một người bạn thời đại học của tôi đã chia sẻ trong ngày tôi tuyên khấn Lần Đầu rằng đời tu rất đẹp vì những bước chân của người tu sĩ vô cùng âm thầm, lặng lẽ. Trong khi bạn bè của mình đã trở thành ông này bà nọ ở trong những công lý lớn hay có những cơ hội thăng quan tiến chức thì những tu sĩ vẫn trầm mình trong những nếp sống của đời dâng hiến. Bản thân tôi cũng cảm nhận vẫn còn đó những khó khăn, thách đố trong đời sống dâng hiến của mình nhưng không thể không vượt qua.
Lời nói của anh bạn của tôi mang một nỗi đau mà chỉ có anh mới hiểu hết. Tôi cũng xin cảm ơn anh vì lời nói ấy, nhờ điều mà anh gọi là “Cái mác tu sĩ” để bản thân tôi ý thức rõ đời sống mình không phải là nơi để tìm kiếm danh vọng và quyền lực hay bất kỳ một ưu đãi nào cho mình cả nhưng cuộc sống mà tôi đã chọn là một đời sống của một tu sĩ nhỏ bé bước theo chân Chúa Giê-su vác thập giá chứ không chỉ đeo trên mình những “cái mác” mà thôi.  Cảm ơn anh bạn của tôi!

Sài Gòn, ngày 18 tháng 11 năm 2018
JB Nguyễn Phi Long, S.J.